tư vấn thương hiệu tư vấn thương hiệu tư vấn chiến lược thương hiệu đơn vị tổ chức sự kiện

Bamboo, Rattan, Vietnam Handicraft, INVESTMENT, Barotex

Barotex

Quên mật khẩu / Lost password? (close)
Opportunities for handicraft products
12/07/2015

Cơ hội cho hàng thủ công mỹ nghệ

Theo thống kê năm 2006, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (thủ công mỹ nghệ) của Việt Nam ước đạt 630,4 triệu USD. Nhiều ý kiến cho rằng đóng góp của ngành hàng này còn quá thấp, mới chỉ đạt chưa đầy 3% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Theo thống kê năm 2006, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ (thủ công mỹ nghệ) của Việt Nam ước đạt 630,4 triệu USD. Nhiều ý kiến cho rằng đóng góp của ngành hàng này còn quá thấp, mới chỉ đạt chưa đầy 3% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Tuy nhiên, nếu nhìn giá trị thực thu thì sự đóng góp của ngành hàng thủ công mỹ nghệ là không nhỏ so với nhiều mặt hàng công nghiệp khác.

Các ngành hàng như dệt may, giày dép, điện tử…, tuy kim ngạch thống kê cao nhưng ngoại tệ thực thu lại thấp, chỉ chiếm khoảng 20% giá trị xuất khẩu, do nguyên phụ liệu chủ yếu nhập khẩu từ nước ngoài. Trong đó hàng điện tử, linh phụ kiện máy tính, giá trị thực thu còn thấp hơn, khoảng 5-10%.

Tạo nhiều việc làm và đóng góp lớn cho xuất khẩu 

Hàng thủ công mỹ nghệ sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu có sẵn trong nước, nguyên phụ liệu nhập khẩu chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong sản phẩm, khoảng 3-5% giá trị xuất khẩu. Vì vậy giá trị thực thu xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ trên thực tế rất cao, từ 95-97%. Có thể so sánh một cách ví von, với 235 triệu USD xuất khẩu vào năm 2000, giá trị thực thu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam tương đương với giá trị xuất khẩu 1 tỷ 143 triệu USD hàng dệt may, xấp xỉ 10% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước.

Điều này cũng có thể hiểu là, nếu tăng thêm giá trị xuất khẩu 1 triệu USD hàng thủ công mỹ nghệ, sẽ tương đương với tăng giá trị xuất khẩu 4,7 triệu USD hàng dệt may. Đó là chưa kể chi phí đầu tư đối với hàng thủ công mỹ nghệ thấp hơn rất nhiều do sản phẩm này không đòi hỏi đầu tư nhiều máy móc, trang thiết bị và chủ yếu làm bằng tay…Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ sẽ tạo việc làm và thu nhập cho lao động trong nước.

Theo thống kê, tính đến nay, cả nước có khoảng 2.017 làng nghề với nhiều loại hình sản xuất như hộ gia đình, tổ sản xuất, tổ hợp tác, các hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân,… thu hút hàng triệu lao động, kể cả lao động nhàn rỗi. Trong một ý nghĩa khác, việc duy trì và phát triển được các làng nghề truyền thống với nhiều thợ giỏi, nghệ nhân giỏi, có tay nghề cao cũng là cách duy trì các di sản văn hóa dân tộc từ đời này sang đời khác.

Theo Cơ quan Hợp tác quốc tế JICA (Nhật Bản), ngành hàng thủ công mỹ nghệ ở Việt Nam đã đào tạo việc làm cho hơn 1,35 triệu người; trong đó, 342 nghìn người đan tre trúc và song mây, 233 nghìn làm dệt thảm, chiếu đan lát, 129 nghìn thợ dệt thêu, với 60% trong số lao động đó là nữ. Thu nhập bình quân của lao động ngành nghề, cũng theo JICA là 366.000 VND/người/tháng. (Thu nhập bình quân chung cả nước là 295.000 VND và vùng nông thôn là 225.000 VND/người/ tháng).

Thị trường truyền thống và thị trường mục tiêu

Thời kỳ hoàng kim của hàng thủ công mỹ nghệ là giai đoạn 1975 đến 1986. Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu đạt bình quân 40%, cao điểm đạt 53,4% (năm 1979). Giai đoạn trước 1990, thị trường chủ yếu là khối các nước Đông Âu, Liên Xô theo những thỏa thuận song phương. Sau 1990, thị trường này suy giảm bởi những biến động chính trị (năm 2000 chỉ đạt 40 triệu USD). Từ sau năm 2000, thị trường xuất khẩu chính là Mỹ, EU, Nhật Bản, Nga và nhiều nước ASEAN, do những nỗ lực tìm kiếm thị trường. Trong đó, EU chiếm 50% giá trị xuất khẩu, Nhật Bản được xem là thị trường chính ở châu á, với 5% tỷ trọng. Mỹ là thị trường đầy triển vọng. Số các nước nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, từ 50 năm 1996, tăng lên 133 nước vào năm 2005; và hiện nay, sản phẩm thủ công mỹ nghệ của Việt Nam đã có mặt hầu khắp các quốc gia trên thế giới.

Theo một con số thống kê gần đây, giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủ công mỹ nghệ chính yếu qua các năm từ 2000 đến 2006 như sau: 2000 đạt 235 (triệu USD), 2001 đạt 235, 2002 đạt 331, 2003 đạt 367, năm 2004 đạt 450, năm 2005 đạt 560 và 630,4 vào năm 2006. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn này là 17,87%.Với thị trường EU ta xuất khẩu mặt hàng chính là gỗ, trong đó, Đức, Pháp, Hà Lan đã chiếm 10% tổng hàng hóa nhập khẩu.

Tỷ lệ tăng trưởng trong tổng kim ngạch xuất khẩu là 21,28%, nhưng giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 2,8%. Thị trường Nhật Bản: kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này là 3,79 triệu USD năm 2004 (tăng 16,6% so với 2003). Khách hàng Nhật rất ưa thích mặt hàng gỗ và số lượng khách du lịch cũng gia tăng. Hiện có nhiều công ty Việt Nam sản xuất và xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản.

Ngoài ra, thị trường Nam Phi cũng tăng trưởng với nhiều triển vọng khi nhiều Cty Việt Nam đang tiến hành nhiều hoạt động xúc tiến thương mại tại thị trường Nam Phi.

Theo TS. Nguyễn Văn Sánh, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển ĐBSCL thì: “Người Việt vốn có tập quán sử dụng hàng thủ công mỹ nghệ từ lâu đời. Do đó, khi có thu nhập cao, hành vi tiêu dùng sẽ theo xu hướng sử dụng những hàng hóa có nguồn gốc nguyên liệu từ thiên nhiên và từ các nghề truyền thống”. Tuy nhiên, mặc dù đã và đang có những đóng góp tích cực vào kim ngạch xuất khẩu, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, cũng như nhiều lợi ích kinh tế xã hội khác, ngành hàng thủ công mỹ nghệ và làng nghề truyền thống vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển và mở rộng thị trường.

TS. Nguyễn Văn Sánh đã chỉ ra những tồn tại đồng thời là những thách thức đó. Trước tiên là những cản trở hiện tại trên thị trường, như: chi phí cho thủ tục giao nhận hàng khá cao (30 USD/m3), mẫu mã đơn điệu, sản phẩm vì thế không đồng nhất. Chi phí vận chuyển tính theo đơn vị m3 cao dẫn đến bất lợi trong cạnh tranh khi xuất khẩu hàng hóa sang EU và Mỹ. Một khó khăn nữa là Việt Nam phải chịu áp lực cạnh tranh cao với hàng hóa Trung Quốc, Thái Lan cùng nhiều nước ASEAN cả về giá cả và mẫu mã; chưa kể áp lực từ hàng nhái, hàng giả…

Thị trường nội địa có sức mua yếu, trong khi kinh nghiệm thị trường quốc tế của doanh nghiệp Việt Nam còn hạn chế. Mặt khác, ngành hàng thủ công mỹ nghệ và làng nghề truyền thống Việt Nam hiện tại còn thiếu tính liên kết giữa khoa học và mỹ thuật học với việc chế tạo, sản xuất sản phẩm.

TS. Nguyễn Văn Sánh cho biết thêm: “Chúng ta mặc dù đã có những chính sách hỗ trợ cho ngành, vẫn chưa có chiến lược phát triển toàn diện ngành hàng này trong việc phát triển sản xuất, từ khâu giống, vùng nguyên liệu cho đến tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ”.

According to 2006 statistics, exports of handicrafts products (handicrafts) of Vietnam is estimated at USD 630.4 million. Many suggested that the contribution of this sector is too low, only reaching less than 3% of total national exports.

According to 2006 statistics, exports of handicrafts products (handicrafts) of Vietnam is estimated at USD 630.4 million. Many suggested that the contribution of this sector is too low, only reaching less than 3% of total national exports.

However, if looking at the value actually collected contributions from crafts sector is small compared to many other industrial goods.

Sectors like textiles, footwear, electronics …, but high turnover but statistically lower net foreign currency, accounting for about 20% of export value, mainly due to raw material imports from countries exterior. In which electronics, computer parts, net worth was lower, about 5-10%.

Create jobs and major contributor to export

Handicraft goods produced mainly by raw materials available in the country, importing raw materials accounted for a very small percentage of the products, about 3-5% of export value. So net worth exporting handicrafts in fact very high, ranging from 95-97%. Can compare a simile, with exports of $ 235 million in 2000, net value handicraft products in Vietnam is equivalent to 1 billion export value of USD 143 million garments, approximately 10 % of total national exports.

This can also be understood as, if added value of $ 1 million export handicraft products, will be equivalent to increasing the export value of USD 4.7 million garment. That is not including investment costs for handicraft products is much lower because this product does not require much investment machinery, equipment and mainly handmade … Boosting production and export handicrafts exports will create jobs and income for local labor.

According to statistics, as of now, there are about 2,017 villages with various types such as household production, production groups, cooperative groups, cooperatives, private enterprises, attracting … million workers, including workers idle. In another sense, the maintenance and development of the traditional village with many skilled craftsmen and artisans, skilled as well as maintaining the national cultural heritage from generation to generation.

According to the International Cooperation Agency JICA (Japan), handicraft industry in Vietnam has trained more jobs for 1.35 million people; of which, 342 thousand people weaving bamboo and rattan, woven mats made 233 thousand, compares knitting, embroidery 129 thousand weavers, with 60% of employees were women. Average income of trades workers, according to JICA is 366,000 VND / person / month. (The average income in the country was 295,000 VND and 225,000 VND rural / person / month).

Traditional market and target market

The golden age of the arts and crafts line period 1975 to 1986. The share of exports reached an average of 40%, peak 53.4% (1979). Period before 1990, mainly mass market of Eastern Europe, the Soviet Union under the bilateral agreement. After 1990, the market decline by political upheaval (in 2000 only 40 million USD). After 2000, the main export markets are the US, EU, Japan, Russia and the ASEAN countries, due to the efforts to find markets. In particular, the EU accounted for 50% of exports, Japan is considered key markets in Asia, with 5% weight. The US market is promising. Importers of crafts, from 50 in 1996, increased to 133 countries in 2005; and now, the handicrafts of Vietnam were present almost all the countries in the world.

According to recent statistics, the export value of handicraft products primarily through the years from 2000 to 2006 as follows: 2000 was 235 (million), reaching 235 in 2001, 2002 was 331, 2003 was 367, 2004, amounting to 450, 560 and 2005 reached 630.4 in 2006. The average growth rate during this period was 17.87% .With our EU exports are wood, which Germany, France, the Netherlands, accounting for 10% of total imports.

The rate of growth in total exports was 21.28%, but the value of exports reached 2.8%. Japan: exports to this market was 3.79 million in 2004 (up 16.6% compared with 2003). Japanese customers are preferred wood items and number of tourists also increased. There are many companies in Vietnam produced and exported to the Japanese market.

In addition, the South African market with promising growth when many Vietnam Company is conducting numerous trade promotion activities in the Republic of South Africa.

According to Dr. Nguyen Van Sanh, Deputy Director, Institute of Development Studies, the Mekong Delta: “Vietnamese people have the habit of using capital goods crafts long time. Therefore, while higher income, consumer behavior will follow the trend using the commodity is derived from natural ingredients from traditional and “. However, although there has been a positive contribution to exports, restructuring the rural economy, as well as many social and economic benefits other, handicraft industry and craft villages system still faces many difficulties in developing and expanding markets.

TS. Nguyen Van Sanh showed that the simultaneous existence of these challenges. First is the current barriers in the market, such as costs for delivery procedures is high (30 USD / m3), monotonous designs and products so heterogeneous. Transportation costs per unit high m3 leads to competitive disadvantage when exporting goods to the EU and US. Another difficulty is the Vietnam of the pressure of high competition with Chinese goods, Thailand and ASEAN countries in terms of both price and design; not to mention pressure from knockoffs, fakes …

The domestic market demand was weak, while experienced international market of Vietnam enterprises are limited. On the other hand, handicraft industry and traditional craft villages in Vietnam currently lacks the link between science and art school for the manufacture, production.

Doctor Nguyen Van Sanh, added: “We though had the support policy for the sector, there is no comprehensive strategy for this sector in the development of production, from brood stock, the raw materials for the organization of production, processing and consumption

---------------------------

Tags: bamboo, giao nhận, handicraft, hàng thủ công mỹ nghệ, mỹ nghệ, rattan, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, thủ công mỹ nghệ, tre, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, đầu tư,